Chào mừng đến với website trường THCS Huỳnh Bá Chánh - Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng. Hôm nay là:

logo2

Từ thuở khai sinh, Trường THCS Hòa Hải (nay là trường THCS Huỳnh Bá Chánh) đã có một ý nghĩa và địa điểm khá đặc biệt. Vào đầu năm 1975 mặc dù có sự góp sức của Phường Hòa Quý nhưng người dân Hòa Hải vẫn chưa có được một ngôi trường cho con em mình học tập. Lãnh đạo địa phương lúc bấy giờ đã quyết định lấy khu vực lô cốt thời Pháp thuộc đặt ở trên đồi cao để làm trường học, lúc ấy trường được gọi với cái tên thân thương gắn liền với tên địa phương anh hùng: Trường Hòa Hải mà người dân lúc bấy giờ thường gọi là “Trường đồi“ được thành lập vào ngày 01 tháng 9 năm 1975.

Từ khi thành lập đến nay, Trường đã trải qua 39 năm thành lập với ba lần thay đổi vị trí và tên gọi của nó.

1. Chặng đường từ năm 1975 đến năm 1989

Từ năm 1975 đến năm 1989, Trường đặt tại lô cốt của Pháp trên đồi cát thuộc khu vực tổ 1 Sơn Thủy hiện nay và mang tên Trường cấp I, II Hòa Hải.

2. Chặng đường từ năm 1989 đến năm 2002

Từ năm 1989 đến năm 2002, được sự quan tâm của chính quyền địa phương, cùng với sự góp sức của bà con nhân dân Phường Hòa Hải, một ngôi trường mới khá khang trang với dãy nhà hai tầng gồm 8 phòng học ra đời. Vì trường cấp I đã được tách riêng ra nên trường được mang tên là Trường THCS Hòa Hải, địa điểm được đặt tại tổ 13 Đông Trà, nay là Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hướng Nghiệp quận Ngũ Hành Sơn.

3. Chặng đường từ năm 2002 đến nay

- Từ năm 2002 đến nay, do nhu cầu học tập của học sinh với số lượng ngày càng tăng. Để đảm bảo được diện tích, phòng học, sân chơi bãi tập đạt quy định trường chuẩn Quốc gia của Bộ Giáo Dục và Đào tạo nên trường được chuyển về địa điểm hiện nay, 172 Nguyễn Duy Trinh thuộc tổ 115, Đông Hải - Hòa Hải.

Trải qua 39 năm trưởng thành và phát triển Nhà trường đã vinh dự liên tiếp được đón nhận 07 thầy cô Hiệu Trưởng và 08 thầy cô Phó Hiệu Trưởng.

- Đầu tiên, năm 1975 thầy Trần Phước Mẹo được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng đầu tiên của trường cho đến năm 1978 thầy nghỉ hưu, thời gian quản lý của thầy kéo dài trong 3 năm học (Từ năm 1975 đến năm 1978).

- Đến năm 1978 Thầy Nguyễn Trọng Tý được điều động từ Miền Bắc vào làm Hiệu Trưởng, sau vì hoàn cảnh gia đình thầy xin chuyển về lại Miền Bắc, thời gian quản lý của thầy kéo dài trong ba năm học ( từ năm 1978 đến năm 1980)

- Đến năm 1980 phòng Giáo dục Huyện Hòa Vang bổ nhiệm thầy Nguyễn Văn Cao làm Hiệu Trưởng và thầy Huỳnh Công Mật làm phó Hiệu Trưởng, sau đó thầy Nguyễn Văn Cao cũng xin chuyển về miền Bắc, thầy Huỳnh Công Mật cũng xin thôi giữ chức Phó Hiệu Trưởng chuyên môn vì hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn.

- Đến năm 1982, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam Đà Nẵng và Phòng Giáo Dục Huyện Hòa Vang đã bổ nhiệm thầy Hồ Thanh Trương làm Hiệu Trưởng và thầy Nguyễn Văn  Hai làm phó hiệu trưởng chuyên môn. Đến năm 1986 vì sức khỏe nên thầy Nguyễn Văn Hai xin thôi giữ chức vụ Phó Hiệu Trưởng chuyên môn và  Phòng Giáo Dục Huyện Hòa Vang bổ nhiệm thầy Nguyễn Văn Lào làm phó hiệu trưởng chuyên môn, tiếp sau đó bổ nhiệm cô Nguyễn Thị Thu Thanh là phó Hiệu Trưởng.

- Đến năm 1998, Sở GD&ĐT Thành Phố Đà Nẵng điều động thầy Hồ Thanh Trương về làm Phó Giám Đốc Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hướng Nghiệp quận Ngũ Hành Sơn đồng thời bổ nhiệm cô Nguyễn Thị Thu Thanh là Hiệu Trưởng và thầy Trần Tân làm phó Hiệu trưởng.

- Đến năm 2005, Sở GD&ĐT Thành Phố Đà Nẵng điều động cô Nguyễn Thị Thu Thanh làm Phó Hiệu trưởng trường THCS Lê Lợi và bổ nhiệm thầy Phạm Anh Tuấn làm Hiệu trưởng và thầy Đặng Hùng làm phó Hiệu trưởng phụ trách CSVC và HĐNGLL. Năm 2006 thầy Đặng Hùng được điều động về làm Phó Trưởng Phòng GD&ĐT quận Ngũ Hành Sơn, thầy Chung Văn Hùng được bổ nhiệm làm Phó hiệu trưởng phụ trách CSVC và HĐNGLL.

- Đến năm 2006-2007 do yêu cầu chung của ngành nhằm giáo dục truyền thống hiếu học của Ông cha, nhà trường xin đổi tên trường thành trường THCS Huỳnh Bá Chánh.

- Đến năm 2010, UBND Quận Ngũ Hành Sơn điều động Thầy Phạm Anh Tuấn lên làm chuyên viên Phòng GD&ĐT Quận Ngũ Hành Sơn, Thầy Trần Tân điều lên làm Hiệu Trưởng trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm và bổ nhiệm thầy Đặng Phước Trường nguyên Hiệu Trưởng Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm về làm Hiệu Trưởng trường THCS Huỳnh Bá Chánh, đồng thời bổ nhiệm cô Nguyễn Thị Hồng Lan làm phó Hiệu trường phụ trách CSVC và HĐNGLL và thầy Chung Văn Hùng làm phó Hiệu trưởng chuyên môn.

- Đến năm 2011, UBND Quận Ngũ Hành Sơn bổ nhiệm thầy Chung Văn Hùng về làm Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ đó đến nay, BGH Nhà trường có 2 thầy cô giáo: thầy Đặng Phước Trường Hiệu trưởng và cô Nguyễn Thị Hồng Lan làm phó Hiệu trưởng chuyên môn.

Với 39 năm thành lập, trưởng thành và phát triển, trường THCS Hòa Hải nay thành trường THCS Huỳnh Bá Chánh đã đào tạo 39 thế hệ học sinh. Các học sinh của trường ngày xưa bây giờ đã thành đạt, sống và làm việc trên khắp mọi miền của đất nước. Trong số đó có 2 học sinh đã trở thành tiến sĩ, hàng trăm người đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong các cơ quan Nhà nước, nhiều người có những vị trí xứng đáng trong xã hội. Những học sinh theo nghề truyền thống của quê hương đến nay đã có nhiêu doanh nghiệp lớn làm giàu cho quê hương đất nước.

4. Một số kết quả đạt được từ năm học 2010 – 2011 đến 2012 - 2013

Chất lượng hai mặt

Học lực

Năm học TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
2010-2011 1001 289 28.9 279 27.9 374 37.4 56 5.6 3 0.3

2011-2012

939 281 29.93 300 31.95 315 33.5 38 4.05 5 0.5
2012-2013 878 283 32.23 279 31.78 280 31.89 33 3.76 3 0.34

Hạnh kiểm

Năm học TS HS Tốt Khá Trung bình Yếu
Số HS % Số HS % Số HS % Số HS %
2010-2011 1001 828 82.7 158 15.8 15 1.5 0 0.0

2011-2012

939 823 87.65 93 9.9 23 2.45 0 0.0
2012-2013 878 775 88.27 90 10.25 13 1.48 0 0.00

Tốt nghiệp THCS

Năm học 2010-2011 2011-2012 2012-2013
Số lượng 271/271 274/275 219/219
Tỷ lệ 100 99.6 100

Trúng tuyển lớp 10 trung học phổ thông công lập

Năm học 2010-2011 2011-2012 2012-2013
Số lượng 217/271 229/269 199/217
Tỷ lệ 80.3- 85.13 91.70
Trường chuyên Lê Quý Đôn

0

1. Nguyễn Thị Lệ Tín (Văn)

2. Lê Thị Thanh Huyền (Sinh)

3. Thái Thanh Hương (Sinh)

1. Lê Thị Nhung (Lịch sử)

Giải học sinh giỏi các môn văn hóa

Năm học Xếp giải toàn đoàn/TP Thành phố Quận
SL giải/HS dự thi I II III KK SL HS dự thi I II III KK
2010-2011 29/55 30/56 (53.8%) 2 5 5 18

13/38

(34.2%)

3 2 4 4
2011-2012 14/55 34/47 4 6 13 11

12/37

(32.4%)

1 3 4 4
2012-2013 17/55

27/38

2 4 08 13

13/31

(41,9%)

02 0 03 0

Giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua          

Năm học Số lượng Họ và tên Danh hiệu Chức vụ/Môn dạy
2010-2011 06 Đặng Phước Trường CSTĐCS Hiệu trưởng
Nguyễn Thị Lành CSTĐCS GV Ngữ văn
Lê Thị Kim Lợi CSTĐCS TT – dạy Lý
Đặng Văn Mẫu CSTĐCS TT- dạy TD
Ông Văn Vũ CSTĐCS GV dạy Hóa
Nguyễn Thị Nhật Thanh CSTĐCS GV Nhạc
2011-2012 06 Đặng Phước Trường CSTĐCS Hiệu trưởng
Nguyễn Thị Hồng Lan CSTĐCS Phó Hiệu trưởng
Nguyễn Thị Lành CSTĐCS GV Ngữ văn
Lê Thị Kim Lợi CSTĐCS TT – dạy Lý
Đặng Văn Mẫu CSTĐCS TT- dạy TD
Huỳnh Thị Bích Toàn CSTĐCS GV dạy Địa
2012-2013 17 Đặng Phước Trường CSTĐCS Hiệu trưởng
Nguyễn Thị Hồng Lan CSTĐCS Phó Hiệu trưởng
Lê Thị Kim Lợi CSTĐCS TT – dạy Lý
Đặng Văn Mẫu CSTĐCS TT- dạy TD
Kiều Văn Quốc GV dạy giỏi quận CTCĐ – dạy Toán
Võ Thị Hưởng GV dạy giỏi quận GV dạy Sử
Bùi Thị Thu Hằng GV dạy giỏi quận GV dạy Vật lý
Trần Thị Lợi GV dạy giỏi quận TTCM – dạy Sinh
Nguyễn Thị Lành GV dạy giỏi quận GV Ngữ văn
Lê Phước Phong GV dạy giỏi quận TTCM – dạy Văn
Nguyễn Thị Linh GV dạy giỏi quận GV Tiếng Anh
Nguyễn Hồ Thanh Thủy GV dạy giỏi quận GV Ngữ văn
Đỗ Thị Mỹ Nữ GV dạy giỏi quận GV dạy Địa
Nguyễn Thị Hiền GV dạy giỏi quận TPCM- dạy T.Anh
Nguyễn Thị Hiếu Thảo GV dạy giỏi quận GV dạy Hóa
Nguyễn Thị Nhật Thanh GV dạy giỏi quận TPCM – dạy Nhạc
Huỳnh Thị Bích Toàn GV dạy giỏi quận GV dạy Địa

 Học sinh lưu ban, bỏ học

Năm học 2009-2010 2010-2011 2011-2012 2012-2013
  SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
Lưu ban 13/1090 1.2% 03/1001 0.3% 05/939 0.5% 04/878 0.45%
Bỏ học 0 0 0 0 0 0 0 0

 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Cơ sở vật chất

            - Tổng diện tích đất sử dụng của nhà trường: 12.147,2m2 (13,2m2/1HS).

            - Tổng số phòng học văn hóa: 17 phòng (17/17 kiên cố).

            - Tổng số phòng học bộ môn: 10 phòng, trong đó có 05 phòng học bộ môn đạt chuẩn Quốc gia (Vật lý, Hóa học, Tin học, Ngữ văn-Giáo dục công dân, Lịch sử-Địa lý).

            - Khối phòng hành chính quản trị có 9 phòng bao gồm phòng Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Văn thư, Kế toán, Công đoàn, Văn phòng, Y tế, Đoàn - Đội, phòng thường trực.

            - Khối phòng khác có Thư viện, nhà đa năng, phòng truyền thống, hội trường.

            - Nhà vệ sinh 07 (nam, nữ riêng), trong đó dành cho CB-GV-NV 03, dành cho học sinh 04.

            - Nhà để xe 03, dành cho CB-GV-NV và khách 02, dành cho học sinh 01.

* Cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động dạy học.

Thiết bị dạy học

- Số lượng thiết bị tối thiểu hiện có: 4 bộ  (01bộ/khối).

- Số lượng máy vi tính, máy chiếu:

+ Máy vi tính: 44, trong đó dành cho quản lý: 09, phục vụ dạy học: 35. Có 44/44 máy được kết nối Internet. Nhà trường có hệ thống Wifi.

+ Máy chiếu (Projector): 06.

+ Máy chiếu OverHead (máy chiếu qua đầu): 03.

+ Ti vi: 10.

+ Cátet: 12.

+ Đầu Video: 07.

+ Đầu đĩa: 08.

+ Đàn Organ: 01.

- Tổng số đầu sách  trong thư viện của nhà trường: 19.171 bảng.

* Thiết bị dạy học đảm bảo phục vụ cho dạy học. Tổ chức mua sắm đúng mục đích sử dụng, đảm bảo nguyên tắt tài chính, hồ sơ chứng từ lưu đầy đủ.

Tình hình học sinh (năm học 2013-2014)

- Số lớp: 28 lớp, chia ra:

+ Khối 6: 8 lớp.

+ Khối 7: 7 lớp.

+ Khối 8: 7 lớp.

+ Khối 9: 6 lớp.

- Số học sinh: 918 em, chia ra:

+ Khối 6: 260 em.

+ Khối 7: 232 em.

+ Khối 8: 220em.

+ Khối 9: 206 em.

- Bình quân: 32,8 HS/lớp.

- Năm học 2013-2014 tuyển sinh 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học trên địa bàn vào lớp 6.

* Số lớp, số học sinh đảm bảo theo quy định của Điều lệ trường trung học.

Tình hình cán bộ, giáo viên, nhân viên (năm học 2013-2014)

- Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 66, biên chế: 62, hợp đồng: 4. Trong đó:

+ Cán bộ quản lý: 02 ( 01 Hiệu trưởng, 01 Phó Hiệu trưởng). Trình độ trên chuẩn: 2/2 (100%).

+ Tổng phụ trách Đội: 01. Trình độ đạt chuẩn: 1/1 (100%).

+ Giáo viên thiết bị: 01. Trình độ đạt chuẩn: 1/1 (100%).

+ Nhân viên: 7 (biên chế 3, hợp đồng 4) Gồm: 1 kế toán, 1 văn thư, 1 thư viện, 1 y tế học đường (hợp đồng), bảo vệ 2 (hợp đồng), phục vụ 1 (hợp đồng).

+ Giáo viên trực tiếp đứng lớp: 55, biên chế 55. Trong đó: trên chuẩn 45 tỉ lệ 81,8%, đạt chuẩn 10 tỉ lệ 18,2%. Tỷ lệ giáo viên trên lớp của trường trong năm học là 1,92 (đảm bảo theo quy định).

- Đội ngũ CB-GV-NV đoàn kết, tất cả vì mục tiêu chung của nhà trường phấn đấu xây dựng trường đạt tập thể lao động xuất sắc và đạt chuẩn Quốc gia trong năm học này.

* Tình hình cán bộ, giáo viên, nhân viên đảm bảo tổ chức hoạt động của nhà trường.

Từ vài ba lớp ngày đầu thành lập đến nay trường ta đã có gần 30 lớp học với hàng  ngàn học sinh theo học mỗi năm. Đội ngũ giáo viên của trường đã  ngày càng tăng thêm cả về số lượng và chất lượng chuyên môn. Hầu hết các thầy cô giáo đạt chuẩn và trên chuẩn đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy và học hiện nay. Chúng ta vô cùng tự hào vì được giảng dạy và học tập trong mái trường thân yêu mang tên nhà chí sỹ yêu nước Huỳnh Bá Chánh, Cụ là người hiếu học, học giỏi đỗ đạt làm quan lâu năm, suốt đời Cụ vì dân, vì nước được nhân dân mến phục. Cụ Huỳnh Bá Chánh là người con của quê hương Hòa Hải anh hùng, Cụ sinh năm Nhâm Thìn (1932) tại xã Quán Khái Đông, Tổng Phú Triêm Hạ, Huyện Diên Phước, Phủ Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam. Nay là Thôn Đông Trà, Phường Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng. Cụ xuất thân trong một gia đình bần nông lại mồ côi cha mẹ phải đi ở nhờ nhà bác ruột để sống nhưng nhờ tinh thần ham học hỏi và bản tính thông minh, Cụ đã đỗ đạt cao và được Triều đình Huế bổ nhiệm làm quan. Khi Thực dân Pháp xâm lược, vua Hàm Nghi hạ chiếu cần Vương, Cụ xin cáo quan rồi cùng với Cụ Tôn Thất Thuyết, Cụ Nguyễn Duy Hiệu lập căn cứ chống giặc Pháp và giữ chức Bố chánh. Vì không bắt được Cụ, Thực dân Pháp dùng kế sách hành hạ, khủng bố dân làng bằng những cực hình dã man, tàn ác. Để cứu dân làng Cụ đã nộp mình cho giặc. Không khuất phục được cụ, Thực dân Pháp và Triều đình Huế lúc đó đã kết án tử hình Cụ tại bến đò Chợ Củi (đầu cầu Cao Lâu huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay). Cụ hy sinh ngày mồng 6 tháng chạp năm Bính Tuất (1886). Cụ Huỳnh Bá Chánh hy sinh anh dũng đã để lại cho đời sau một tấm gương sáng ngời về tinh thần hiếu học, học giỏi và chí khí anh dũng của người cách mạng giàu lòng yêu quê hương đất nước. Để xứng đáng với vị anh hùng dân tộc Huỳnh Bá Chánh, xứng đáng với quê hương Hòa Hải hai lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng, thầy và trò trường ta lấy làm tự hào và nguyện quyết tâm sẽ sống, học tập và làm việc theo tấm gương của Cụ./.

Đăng nhập

Văn bản

Ngày hội Tiến bước lên Đoàn

T.sử cụ Huỳnh Bá Chánh

HBC website

000223463
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
60
49
386
222387
943
2076
223463

Your IP: 54.82.81.154
17-12-2017 10:09
elear